Câu chuyện giáo dụcCâu chuyện giáo dục

(Kể chuyện cho bé) Lê Văn Hưu – Sử gia đầu tiên của nước Việt

Đăng ngày 07/11/2017 11:36

Câu chuyện: Lê Văn Hưu – Sử gia đầu tiên của nước Việt

Thể hiện: Nguyễn Hương Ly, Lớp 10A8


Download!

               Từ thời xa xưa, đất Kẻ Rỵ - Kẻ Chè là trung tâm của vùng Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay). Nơi đây sinh ra dòng họ Lê cường thịnh, nổi tiếng giàu có và nghĩa khí. Các hào phú tổ phụ họ Lê dưới thì bảo trợ cho cả vùng Kẻ Rỵ, trên thì một lòng hỗ trợ các vương triều. Đến đời Đinh Tiên Hoàng, Lê Lương cai quản họ Lê ở Kẻ Rỵ. Kế thừa hào khí tổ tông, Lê Lương cũng nuôi hàng nghìn môn khách trong nhà, mỗi khi mất mùa đều phát chẩn đầy đủ cho dân trong vùng, và luôn hướng về nền đại thống nhất đất nước chứ không có ý cát cứ cho riêng mình. Vì thế, Lê Lương được vua Đình phong làm Đô dịch sứ Cửu Chân, con cháu được đời đời cai quản vùng đất đai rộng lớn này. Rồi đến đời Tiền Lê, vua Lê Hoàn tiếp tục phong ông làm Bộc xạ Tướng công, trông coi việc quân lương của triều đình. Lê Lương giúp hai đời vua mở mang làng mạc, ruộng đồng, làm ra nhiều của cải. Ông bỏ công gây dựng ba ngôi chùa lớn là Hương Nghiêm, Trinh Nghiêm và Minh Nghiêm khiến Kẻ Rỵ trở thành trung tâm Phật giáo xứ Thanh từ ấy. Dòng họ Lê ở Kẻ Rỵ từ đó đời nối đời làm quan, phò vua giúp nước, luôn được tiếng tốt trong vùng. Đến đời cháu thứ sáu của Lê Lương, dòng họ Lê xảy ra biến cố. “Lê gia chính phả” chép rằng, có một tráng đinh tên húy là Minh, tên chữ Văn Thiện, lấy vợ họ Đỗ tên Thanh. Hai vợ chồng mới chung sống được nửa năm thì Văn Thiện lâm bệnh qua đời. Lúc ấy, vợ ông đã mang thai bốn tháng. Ba tháng dù còn trẻ nhưng quyết không tái giá mà ở vậy thờ chồng, nuôi con. Bà được học chữ thánh hiền nên mong ước rằng cậu con trai trong bụng sẽ học hành khấm khá, làm rạng danh dòng họ.

               Một đêm, bà Thanh mộng thấy Tiên ông chống gậy gọi đi theo. Bà lập cập đi theo Tiên ông hết đồng nọ ruộng kia, đến tận khu Mả Hỗn, Tiên ông mới dừng lại. Ông cầm cành ngọc lan cắm vào nơi ấy và dặn rằng: “Đem mộ chồng con táng vào chỗ này thì quý tử sẽ thi đỗ đại khoa.” Dứt lời, Tiên ông bay lên trời, còn bà Thanh giật mình tỉnh giấc giữa hương lan thơm lừng. Cha ruột của bà Thanh là một thầy đồ tinh thông, ông liền đem hài cốt con rể cải táng theo điềm mộng. Dăm tháng sau, bà Thanh sinh được một cậu con trai kháu khỉnh, tư chất thông thuệ, da dẻ thơm nức mùi hoa lan, đặt tên là Lê Văn Hưu. Khi ấy là năm 1230. Cậu bé Lê Văn Hưu biết nói từ sớm, chẳng mấy chốc đã thuộc làu những câu thơ Tam thiên tự mẹ ru lúc ngủ. Độ 4-5 tuổi, Lê Văn Hưu đã mon men ra Quán học đầu làng xem các anh giảng thơ, bình văn. Thấy cậu bé con nhắc bài cho các anh lớn, thầy đồ để ý. Thầy viết mấy chữ nho giảng cho cậu hiểu, rồi hôm sau hỏi lại thì Lê Văn Hưu nhắc lại chẳng sai chữ nào. Từ thuở ấy, đồn rằng mỗi độ cậu ra khỏi nhà đều có bốn đám mây ngũ sắc che chở trên đầu, không nắng mưa nào phạm được tới cậu.

               Năm lên 9, Lê Văn Hưu theo học thầy đồ Nguyên ở thôn Phúc Triền gần đó. Cậu rất sáng dạ, học đâu nhớ đấy, đối đáp văn thơ trôi chảy, luôn được thầy khen và bạn bè quý mến. Tài học của cậu ngày càng được nhiều người biết đến. Một hôm, tan học về qua lò rèn, thấy bác thợ chế những cây dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cây để đóng quyển (vở học) nên cứ đứng tần ngần, ngắm mãi. Bác thợ rèn thấy cậu học trò khôi ngô, bèn ra một vế đối:

Than trong lò, lửa trong lò, sắt trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở.

               Lê Văn Hưu đối ngay không lưỡng lự:

Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.

Vế đối của bác thợ rèn nói về lao động khó nhọc của người thợ (thở phì phò) với những đồ nghề (lò, than, sắt, lửa) để tạo ra vật dụng. Còn vế đối đáp lại của Lê Văn Hưu mô tả việc học tập cần cù của người học trò (viết lúi húi) với những công cụ (giấy, bút, mực) để đạt được thành quả cao. Bác thợ rèn tấm tắc khen ngợi, rồi tặng Lê Văn Hưu chiếc dùi vở đẹp kèm theo mấy đồng tiền.

Bà góa Thanh thấy Lê Văn Hưu học hành tấn tới thì mừng rỡ vô cùng. Bà muốn luôn ở cạnh để nhắc nhở con học tập nên đem đúc cho con cây đèn hình rồng, khảm viên ngọc gia bảo của cụ Tướng quốc Bộc xạ vào mắt rồng. Ban đêm, ánh ngọc tỏa sáng cho Lê Văn Hưu cần cù đọc sách. Cây đèn bảo vật tổ tiên trở thành bạn tâm giao luôn được Lê Văn Hưu đem theo bên mình. Đằng đẵng đèn sách nhiều năm, năm Đinh Mùi (1247), Lê Văn Hưu đi thi đại khoa và được vinh danh Bảng nhãn. Năm ấy, ông mới tròn 17 tuổi. Đỗ đạt làm quan, cây đèn vẫn soi sáng cho ông từ đêm này sang đêm khác, để biên soạn thành công 30 cuốn Đại Việt sử ký – bộ quốc sử đầu tiên của nước Việt ta. Tương truyền, khi ông mất, người ta chôn theo cả cây đèn bầu bạn với ông.

Con đường quan lộ của Lê Văn Hưu cũng rất hiển hách. Ông giữ chức Kiếm pháp quan nhiều năm, trông coi việc hình luật trong triều. Sau ông được thăng đến Thượng thư bộ Binh, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện Giám tu. Lê Văn Hưu được vua Trần Thái Tông ủy thác dạy dỗ các hoàng tử trong cung, đây là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất dành cho các bậc trí tài thời ấy. Một trong những học trò xuất sắc của ông chính là công thần danh tướng Trần Quang Khải.

Nhà vua tin cẩn giao phó cho Lê Văn Hưu biên soạn quốc sử, để các đời vua sau học hỏi kinh nghiệm của cha ông, cai quản và củng cố nền độc lập của đất nước. Suốt thời gian ở Quốc sử viện, Lê Văn Hưu miệt mài biên soạn Đại Việt sử ký.

Năm 1272, bộ quốc sử đầu tiên của nước ta được hoàn thành, ghi chép những sự kiện trọng yếu trong gần 15 thế kỉ, từ thời Triệu Đà thành lập Nam Việt (207 TCN) đến thời Lý Chiêu Hoàng (1224 – 1225). Đến thời nhà Minh (1368 – 1644), nhiều thư tịch có giá trị của nước ta bị tịch thu mang về Trung Quốc, trong đó có Đại Việt sử ký, nên tác phẩm này về sau bị thất truyền. May mắn là nội dung cuốn sử này đã được Phan Phu Tiên đời Lê ghi lại và dùng làm tư liệu biên soạn Đại Việt sử ký tục biên vào năm 1455. Sau đó, năm 1479,, nhà sử học Ngô Sĩ Liên lại dựa trên hai đại tác phẩm này để hoàn thành bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Ngày nay, nội dung ban đầu của Đại Việt sử ký chỉ vỏn vẹn còn lại ở 30 đoạn luận bàn của Lê Văn Hưu về các sự kiện và yếu nhân lịch sử. Lê Văn Hưu đặc biệt coi trọng nền độc lập nước nhà, nên ông đã dành những lời ca ngợi tốt đẹp cho các bậc đế vương chiến đấu dũng mãnh với phương Bắc như Hai Bà Trưng, Đinh Tiên Hoàng…đồng thời cũng coi trọng tài trị vì đất nước của các bậc minh quân Ngô Quyền đến Lý Anh Tông.

“Trưng Trắc, Trưng Nhị hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng sáu mươi nhăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay.”

Lê Văn Hưu dành lòng quan tâm cho cuộc sống dân lành, nên trong Đại Việt sử ký có nhiều lời phê cho các bậc vua trước. Chẳng hạn như ông thẳng thắn phê phán Lý Thái Tổ (974 – 1028) xây dựng quá nhiều chùa chiền, thay vì phải tiết kiệm sức dân để lo cho đất nước. Hoặc ông chỉ trích cấm lệnh của vua Lý Thần Tông (1128 – 1137) “không cho con gái nhà quan lấy chồng trước khi dự tuyển vào hậu cung”. Những lời phê này đều rất xác đáng.

Lòng cha mẹ ai chẳng muốn con cái có gia thất… Thần Tông xuống chiếu cho con gái các quan phải đợi xong việc tuyển người vào cung rồi mới được lấy chồng, thế là để cung phụng riêng cho mình, đâu phải là tấm lòng của người làm cha mẹ dân!

               Tài học và tấm lòng của Lê Văn Hưu tuy không còn nhiều cứ liệu lịch sử ghi chép lại, nhưng thông qua tác phẩm của hai hậu bối là Phan Phu Tiên và Ngô Sĩ Liên, người đời sau vẫn có thể sơ lược cảm nhận được. Trong bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, Ngô Sĩ Liên viết rằng: “Văn Hưu là người chép sử giỏi đời Trần…vâng chiếu biên soạn lịch sử nước nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập hợp thành sách cho người xem đời sau không còn gì phải tiếc nữa…” Lê Văn Hưu là người đặt nền móng đầu tiên, khai mở cho việc nghiên cứu lịch sử nước nhà của nhiều thế hệ sử gia Việt Nam. Đồng thời, ông còn có nhiều ghi chép quý giá về địa lí thiên nhiên, phong thủy long mạch một số vùng, để bố trí quân binh được thuận. Và ông cũng là một bậc thầy anh minh, giúp vua dưỡng dục nhiều anh tài cho đất nước. Tinh thần dân tộc và tài năng đức độ của Lê Văn Hưu được truyền đời đến tận ngày nay. Sau khi ông mất (năm Nhâm Tuất 1322), rất nhiều vùng đã dựng bia và đền thờ phụng ông. Hiện có rất nhiều con đường và ngôi trường mang tên ông trên khắp các tỉnh thành cả nước.

               HẾT.

 

Câu chuyện bạn Nguyễn Hương Ly vừa kể nằm trong Dự án Sách nói của Vinschool, được triển khai trong hội sách Bookfair 2017: Đây là dự án bao gồm các câu chuyện cổ tích Việt Nam và Thế giới, truyện ngụ ngôn… được đọc, kể lại và thu âm bởi chính học sinh Vinschool. Trong đó, 50% các câu chuyện sẽ được kể bằng tiếng Anh. Sách nói sẽ được phát hành trên website của Nhà trường để Phụ huynh khối Mầm non và Tiểu học có thể bật cho con nghe, đồng thời Vinschool sẽ dành tặng cho trẻ em các trường khiếm thị như một dự án xã hội của các bạn học sinh.