Câu chuyện giáo dụcCâu chuyện giáo dục

(Kể chuyện cho bé) Trần Khánh Dư – Vị Chủ tướng Vân Đồn

Đăng ngày 07/11/2017 10:45

Câu chuyện: Trần Khánh Dư – Vị Chủ tướng Vân Đồn

Thể hiện: Nguyễn Hương Ly, Lớp 10A8

Download!

Vào thời Trần, các vương hầu đều được cai quản một vùng đất nhỏ, thường gồm vài làng với vài ba trăm hộ dân, gọi là Thái ấp, Thượng tướng quân Trần Phó Duyệt được giao coi giữ châu Chí Linh (Hải Dương). Tại đây, cậu con trai ông là Trần Khánh Dư đã cất tiếng khóc chào đời. Thượng tướng quân đặt nhiều kì vọng ở con trai. Ông cho mời những thầy giỏi nhất trong vùng về để dạy cho con. Cậu bé Trần Khánh Dư thông minh, lanh lợi, học đâu hiểu đấy. Đặc biệt, cậu rất say sưa tìm hiểu những trận bình, mưu lược…trong sách binh thư.

               Lớn lên, Trần Khánh Dư thừa hưởng tước hầu từ cha, được vua Trần Thánh Tông phong là Nhân Huệ Hầu. Khi giặc Nguyên vào cướp phá nước ta lần thứ nhất (1257), Trần Khánh Dư hãy còn trẻ tuổi nên chỉ được giao quản lĩnh một toán quân nhỏ. Vị tướng trẻ mưu trí thường chọn những chỗ sơ hở của địch rồi bất ngờ cho quân đánh úp. Những trận đánh ấy đã khiến địch đứng ngồi không yên, thấy đâu đâu trên đất Đại Việt cũng đầy hiểm họa, bất trắc. Tài cầm quân thao lược hơn người của Trần Khánh Dư được bộc lộ từ những trận đánh ban đầu như thế. Trong lần định công ban thưởng đầu năm 1258, vua Trần lập ông làm Thiên tử phĩa nam (con nuôi vua)  và cho thăng tước thành Nhân Huệ Vương. Sau, ông đi đánh giặc man ở vùng núi nên được phong tước Phiêu kị Đại tướng quân, chức vụ vốn chỉ dành cho hoàng tử.

               Một lần, Trần Khánh Dư mắc lỗi nặng, vua Trần Thánh Tông phải xuống tay xử phạt để răn đe. Thời ấy có lệ “đánh một trăm roi mà không chết là thiên mệnh cho sống”. Bởi thế, ngoài mặt vua thét lệnh đem ông ra Hồ Tây đánh đến chết nhưng bên trong lại ngầm sai quân sĩ nương tay. Nhờ đó, ông mới được toàn mạng. Trần Khánh Dư bị đoạt hết quan tước, tịch biên toàn bộ gia sản, chỉ được giữ lại châu Chí Linh (vốn là đất riêng của cha khi xưa). Ông lui về quê cũ làm nghề bán than kiếm sống. Các vương hầu, quan lại thấy ông làm nghề buôn thì tỏ ý khinh thường, nhưng Trần Khánh Dư vẫn chẳng nề hà. Vốn xuất thân là một viên tướng đánh thủy, Trần Khánh Dư rất quan tâm đến đặc điểm từng luồng, lạch, mực nước nông sâu của các vùng sông nước. Ông ghi chép lại rất cẩn thận những điều quan sát được, những kinh nghiệm hỏi được từ người dân địa phương.

               Năm 1282, dưới vương triều vua Trần Nhân Tông, giặc Mông Nguyên ngấp nghé xâm chiếm bờ cõi nước ta. Nhà vua cho triệu các vương hầu về bến Bình Than bàn kế sách công, thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu. Thuyền rồng vừa cập bến, nhà vua nhắc thấy bóng người quen thuộc trên chiếc thuyền chở đầy than củi. Vua bảo với thị thần: “Người kia chẳng phải Nhân Huệ Vương đó sao?” và sai người chèo thuyền nhỏ đuổi theo. Đến cửa Đại Than thì bắt kịp chiếc thuyền, quân lính bắc loa gọi lớn: “Ông lái ơi, có lệnh vua gọi!” Ông già thủng thẳng đáp: “Lão là người buôn bán, can chi mà vua gọi.” Gọi hai, ba lần, ông đều trả lời như vậy. Quân lính bèn quay trở về tâu trình sự thực với nhà vua. Nghe vậy, nhà vua cười và nói rằng: “Đích thị là Nhân Huệ Vương rồi, người thường tất không có khẩu khí ấy.” Lần này vua sai Nội thị đi gọi. Trần Khánh Dư biết không thể chối, bèn theo Nội thị lên thuyền rồng. Nhìn vị đại tướng tóc đã điểm sương mà vẫn phải lam lũ kiếm kế sinh nhai, nhà vua rất xót xa: “Nam nhi mà đến thế là cùng cực lắm thay!” rồi xuống chiếu tha cho tội trước đây. Đoạn, vua ban cho ông áo ngự và cho ngồi cùng với các vương hầu, khanh tướng bàn việc nước. Trần Khánh Dư đem tâu bày hết những kinh nghiệm sông nước trong những năm bôn ba buôn bán. Những kế sách rèn luyện thủy binh, các chiến thuật trong thủy chiến được nung nấu bao năm cũng được ông dốc lòng bày tỏ. Thượng hoàng Trần Thánh Tông và nhà vua nghe xong rất đỗi hài lòng, bèn hạ lệnh phục chức Phó Tướng quân và cho ông trấn thủ Vân Đồn. Vân Đồn là vùng cửa biển hiểm yếu. Nếu lọt qua đây, giặc sẽ dễ dàng men theo sông Bạch Đằng tiến sâu vào nước ta. Trần Khánh Dư ngày đêm rèn binh, xây dựng một phòng tuyến vững chắc từ cửa biển Vạn Ninh (Móng Cái, Quảng Ninh) đến biển Lục Thủy (Hòn Gai, Quảng Ninh). Ông lại sai Nhân Đức Hầu Trần Đa ra giữ cửa biển Vạn Ninh, còn mình thì đốc suất binh thuyền ở quân cảng Vân Đồn. Nơi đây cũng là thương cảng hưng thịnh bậc nhất của Đại Việt lúc bấy giờ. Quân do thám của Mông Thát vẫn giả dạng lái buôn vào dò la tin tức. Bởi thế, Trần Khánh Dư đặt lệnh nghiêm cấm các thuyền buôn qua lại trong vùng biển xung yếu này.

               Năm 1287, nhà Nguyên phong cho Thái tử Thoát Hoan làm Nguyên soái, cất quân sang Đại Việt. Do không điều động được phu gánh gạo đi theo, quân Nguyên phải vận tải lương thực bằng thuyền. Hốt Tất Liệt phong cho Trương Văn Hổ làm Giao Chỉ hái thuyền vạn hộ, áp tải đoàn thuyền lương. Lại giao cho những viên tướng thông thuộc thủy binh như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp…hộ tống thuyền lương.

               Một ngày đông năm 1287, đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi rùng rùng tiến vào cửa Vạn Ninh. Nhân Đức Hầu Trần Đa chống đỡ không nổi, giặc thừa thắng tràn qua cửa An Bang. Thấy càng đánh càng rơi vào thế bất lợi, Trần Khánh Dư cho rút quân, đoàn binh thuyền Mông Thát được thể ào ào tràn vào lãnh thổ Đại Việt. Tin thất trận An Bang truyền tới hành cung, Thượng hoàng Trần Thánh Tông giận lắm, sai quan Trung sứ ra tận nơi, điệu ông về hỏi tội. Trần Khánh Dư bình tĩnh nói với quan Trung sứ: “Thân làm Phó tướng mà không giữ nổi cửa ải yết hầu, tội này đáng muôn lần chết. Nhưng xin Trung sứ tâu với nhà vua thư cho ta vài ngày để lập công chuộc tội!” Quan Trung sứ nghe theo lời, bèn về tâu vua. Đoạn Trần Khánh Dư cho gọi tùy tướng lên bàn: “Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp thấy quân ta liều chết xông mà không chống nổi, tất sinh lòng kiêu ngạo. Giờ chúng chỉ chăm chăm tiến về Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan, bỏ lơi việc hộ tống đoàn thuyền lương chở nặng phía sau. Trương Văn Hổ vốn xuất thân là giặc biển, không tuân thủ nghiêm ngặt phép dùng binh thông thường. Phải chớp lấy thời cơ này mà điểm vào tử huyệt kẻ thù.” Việc binh gấp rút, Trần Khánh Dư lập tức cho thu thập tàn quân sau trận khốc chiến An Bang về trấn giữ ở Vân Đồn. Dân chài xung quanh cũng xin gia nhập vào đội binh thuyền của ông. Đúng như dự liệu của Trần Khánh Dư, chẳng bao lâu, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ ì ạch tiến vào vịnh Hạ Long. Chờ cho chúng lọt hẳn sâu vào trận địa bày sẵn, Trần Khánh Dư mới đổ quân ra vây đánh. Quân Nguyên cuốn cuồng quay đầu tháo chạy. Thuyền giặc, cái bị đắm, cái bị chiếm, cái đầu hàng… cứ mất dần, mất dần, Trương Văn Hổ sợ vỡ mật, đổ hết lương thảo xuống biển, trốn thoát về Quỳnh Châu. Trần Khánh Dư đại thắng, mở tiệc khao quân. Ông cho ghi công từng người, từng thuyền để tâu lên đức vua ban thưởng. Viên Trung sứ nâng chén rượu mừng kính cẩn nói với chủ tướng Vân Đồn: “Như tướng quân mới thực là bậc kì tướng xưa nay. Từ thân tội đồ thành đại tướng lẫy lừng khiến vua nể, giặc sợ. Ấy mới thực là bậc anh hùng.” Nhận được tin quân thông hiệu báo về, Thượng hoàng mừng rỡ: “Chỗ trông cậy của quân Nguyên là lương thực và khí giới nay đã không còn. Xem chúng còn hung hăng được nữa hay chăng?” Rồi Thượng hoàng ra lệnh miễn thứ tội trước đây cho Trần Khánh Dư.

               Năm 1311, vua Chăm Pa đòi triều Trần trả lại châu Ô và châu Lý. Hai châu này trước kia vốn là lễ vật của vua Chăm cầu hôn công chúa Huyền Trân. Vua Trần Anh Tông đích thân đem quân đi chinh phạt. Nhân Huệ Vương lúc này tuổi đã cao nhưng cũng xin chỉ huy một cánh quân. Vua Trần Anh Tông nhìn vị lão tướng, lấy làm phục lắm. Trận này, quân nhà Trần đã đánh chiếm được kinh đô của Chăm Pa, bắt được vua Chăm. Biên ải từ đó trở lại bình yên.

               Khi thấy tuổi đã cao, Trần Khánh Dư xin nhà vua cho trở về quê vui thú điền viên. Ông thường dạo chơi, thăm thú phong cảnh khắp nơi. Năm 1323, khi đi qua vùng Tam Điệp, Trường Yên (Ninh Bình), thấy nơi đây đất đai màu mỡ, sông ngòi thuận tiện mà dân cư còn thưa vắng, ông bèn sai gia nhân đến khai khẩn, lập thành làng mới. Dần dà, người kéo đến làm ăn ngày càng đông, lập thành trại An Trung. Sau đó, dân các vùng khác tiếp tục đến, lập thêm trại Động Khê và trại Tịch Nhi thuộc hai xã Yên Nhân và Yên Đồng, huyện Ý Yên (Nam Định). Trong buổi đầu khai hoang, lập ấp, ông bỏ tiền giúp dân lấy vốn làm ăn. Ông lại dạy cho dân trại Tịch Nhi trồng cây cói và làm nghề dệt cói. Mười năm sau, Trần Khánh Dư trở về Thái ấp Dưỡng Hòa (Hà Nam) và giao cho hai gia tướng họ Bùi, họ Nguyễn coi sóc vùng đất mới khai hoang.

               Năm 1340, ông mất. Dân trại An Trung nhớ tiếc, lập ông làm Thành hoàng làng và xây đền thờ trên nền đất ngôi nhà ông từng ở. Trên quê hương ông, người dân cũng dựng đền thờ bên bến sông, nơi ông từng lam lũ bán than. Ngôi đền ấy là một trong những linh tích của đất Chí Linh, được nhắc đến nhiều trong sử sách.

               HẾT.

Câu chuyện bạn Nguyễn Hương Ly vừa kể nằm trong Dự án Sách nói của Vinschool, được triển khai trong hội sách Bookfair 2017: Đây là dự án bao gồm các câu chuyện cổ tích Việt Nam và Thế giới, truyện ngụ ngôn… được đọc, kể lại và thu âm bởi chính học sinh Vinschool. Trong đó, 50% các câu chuyện sẽ được kể bằng tiếng Anh. Sách nói sẽ được phát hành trên website của Nhà trường để Phụ huynh khối Mầm non và Tiểu học có thể bật cho con nghe, đồng thời Vinschool sẽ dành tặng cho trẻ em các trường khiếm thị như một dự án xã hội của các bạn học sinh.