Câu chuyện giáo dụcCâu chuyện giáo dục

(Kể chuyện cho bé) Ỷ Lan – Cô gái hái dâu

Đăng ngày 07/11/2017 11:33

Câu chuyện: Ỷ Lan – Cô gái hái dâu

Thể hiện: Nguyễn Hương Ly, Lớp 10A8


Download!

               Phía Bắc thành Thăng Long xưa có một ngôi làng lâu đời, gọi là làng Sủi (nay thuộc xã Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội). Làng nằm trên một vùng đất trù phú. Xung quanh có núi bao bọc, lại có sông ngòi thuận đường giao thương, buôn bán. Dân chúng ngoài nghề nông còn có nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Trong làng ấy, có một gia đình nông dân họ Lê. Vợ chồng họ là người cần cù, siêng năng. Hết ngoài đồng lúa, họ lại ra ruộng dâu, ngày cày ruộng tối lại chăn tằm. Tằm nhà ông bà lúc nào cũng thu được nhiều tơ nhất làng. Nhà ấy hiếm muộn, mãi mới có được một mụn con gái, đặt tên là Lê Thị Yến. Năm cô mười hai tuổi thì người mẹ qua đời. Công việc đồng áng, dâu tằm nay dồn hết lên vai người cha. Cảnh nhà neo người, lại thương đứa con gái côi cút nên ông đi bước nữa, những mong có người đỡ đần khuya sớm.

               Năm cô Yến mười sáu tuổi, người cha do làm việc quá vất vả cũng ra đi. Từ đó, cô gái mồ côi phải một mình quán xuyến công việc của cha mẹ để lại. Cô lo toan, vun vén mọi việc từ cấy hái, gieo trồng cho đến chăn tằm, ươm tơ. Ai nấy đều tấm tắc khen cô gái đảm đang, hay lam hay làm. Trong làng, ngoài xóm, ai có hoàn cảnh nhỡ nhàng, túng quẫn, cô đều hết lòng giúp đỡ. Khi thì củ sắn, củ khoai, khi thì lưng cơm, đấu gạo. Người làng yêu quý, gọi cô là cô Tấm thảo hiền.

               Năm ấy, vua Lý Thánh Tông đã ngoài bốn mươi tuổi mà vẫn chưa có con trai để truyền ngôi báu. Triều thần lo lắng không yên, mới khuyên nhà vua đi các chùa chiền cầu tự. Tiết đầu xuân ấm áp, vua dẫn theo trăm quan đi xin lộc ở chùa Dâu. Làng xóm biết tin mở hội nghênh giá. Sau lễ dâng hương, cúng Phật, vua cùng quần thần đi thăm thú, vãn cảnh quanh vùng. Đám rước vua tưng bừng, rộn rã; cờ xí, võng lọng rợp trời. Dân làng nô nức đổ ra hai bên đường xem mặt vua. Vua liền cho dừng kiệu, ân cần hỏi thăm từng người. Ngài sai thị thần và binh lính phát lộc cho mọi người, người nắm xôi, người cái oản, kẻ quả chuối…Ai nấy đều hoan hỉ nhận lộc quý vua ban. Chợt vua nghe thấy xa xa có tiếng hát ai trong trẻo:

               “ Tay cầm bát nguyệt xênh xang

               Một trăm ngọn cỏ lai hàng tay ra.”

               Vua ngước mắt lên trông thì thấy giữa ngàn dâu xanh ngắt có một người con gái đang mải miết làm việc. Ngài lấy làm lạ lắm, bước tới gần người con gái kì lạ nọ hỏi han: “Nàng là ai? Sao không cùng mọi người vui hội đầu xuân, đón lộc ta ban?” Cô gái nhẹ nhàng quỳ xuống tâu: “Thiếp là Lê Thị Yến, vốn người làng Sủi. Biết mình phận mỏng cánh chuồn, đâu dám đoái mong chiêm ngưỡng mặt rồng…” Vua thoáng ngỡ ngàng trước lối đối đáp nhã nhặn của cô thôn nữ, lại càng xao xuyến hơn khi nhận ra vẻ mặn mà, duyên dáng ít người bì kịp. Cô gái lại thong thả thưa tiếp: “…Hôm nay tuy biết làng có hội, nhung vì việc nhà còn chưa trọn, việc canh cửi vẫn dở dang nên thiếp không dám bê trễ mà bỏ đấy đi xem. Tuy mắc tội không ra nghênh giá, nhưng trộm nghĩ cũng là làm đúng lời người dạy con dân: Mỗi người đều phải làm cho tròn trách phận của mình.” Vua mừng lắm, nghĩ bụng: “Giữa chốn nâu sồng thôn dã lại có người con gái thanh nhã, đoan trang, dịu dàng làm vậy thực ra hiếm có. Đây phải chăng là duyên Trời sắp đặt…” Rồi vua ban chỉ dụ rước nàng về kinh thành, truyền xây sửa Lan cung, đặt tên mới là cung Ỷ Lan (dựa gốc lan) để ghi nhớ kỉ niệm ngày đầu gặp mặt. Đám hội làng Sủi hôm ấy trở thành đám đưa dâu, rộn rã gấp bội phần. Bước vào cung vàng điện ngọc, cô Tấm Ỷ Lan vẫn giữ nếp quê thanh bần, chịu thương chịu khó. Khác với các phi tần trong cung, cô không trọng việc tô son điểm phấn, sắm sanh lụa là mong chiếm lấy tình cảm của bậc quân vương mà ngày đêm lo học hỏi lễ nghi, công việc trong nội cung. Nhà vua thấy vậy càng yêu thương, quấn quýt bên người tài nữ. Ỷ Lan chăm chỉ học chữ nghĩa, miệt mài đọc kinh thư, nghiền ngẫm đạo thánh hiền. Từ trong cung cấm đến ngoài kinh thành, đâu đâu cũng nghe nhắc đến người cung phi tài sắc ấy. Ai nấy đều lấy làm nể phục sự hiểu biết sâu rộng của Ỷ Lan.

               Một lần khi được nhà vua ngự hỏi về đạo trị nước, Ỷ Lan đã thẳng thắn tâu: “Muôn tâu, cái cốt yếu trong đạo trị nước là bậc minh quân phải biết nghe lời can gián của trung thần. Lời nói ngay thẳng nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm. Thuốc đắng khó uống nhưng chữa được bệnh. Nước muốn mạnh, hoàng đế còn phải có tấm lòng nhân từ với muôn dân. Tự mình tu đức để giáo hóa dân thì sâu hơn mệnh lệnh, dân bắt chước thì nhanh hơn pháp luật.” Vào cung được ít lâu, nàng Ỷ Lan lại sinh hạ cho vua được một hoàng tử khôi ngô, tuấn tú, đặt tên là Càn Đức. Vua càng thêm yêu dấu, tôn nàng làm Nguyên phi và phong hoàng tử Càn Đức làm Thái tử. Là mẹ của Hòang Thái Tử, người sẽ kế nghiệp ngôi báu, Nguyên phi luôn khai tâm cho vị vua tương lai bằng những điều nhân, nghĩa, đức, trí, tín. Bà mời những võ sư giỏi nhất của Cấm vệ quân tới dạy cho Thái tử.

               Năm 1069, giặc phương Nam quấy nhiễu bờ cõi, vua Lý Thánh Tông đích thân cầm quân chinh phạt. Trước khi ra đi, vua trao cho Nguyên phi Ỷ Lan quyền Nhiếp chính, thay vua lo việc trị nước, an dân. Trong lúc nhà vua cùng tướng quân Lý Thường Kiệt xông pha trận mạc, Nhiếp chính Ỷ Lan một tay đảm đang công việc nội cung, một tay điều hành công việc triều chính. Bà sắp đặt chu đáo mọi việc từ quân lương cho mặt trận tới giống má cho mùa màng… Bà thưởng người có công, phạt kẻ phạm tội rất hợp lòng người. Thần dân đều một lòng kính phục.

Trong thời gian Nguyên phi nắm quyền Nhiếp chính, Đại Việt ta không may bị thiên tai nặng nề. Lũ ngập trắng đồng, mùa màng thất bát, đói kém lan tràn. Nguyên phi quyết định mở các kho lương thảo quốc gia để phát chẩn, cứu đói cho dân, tận trừ những kẻ lợi dụng quyền hành tích trữ thóc gạo, cho vay nặng lãi. Nhờ đó mà hàng vạn dân đã thoát khỏi nạn đói, thôn làng ngõ xóm bớt cảnh tiêu điều. Người người rủ nhau đưa trâu bò xuống đồng vỡ đất, chuẩn bị giống má để bắt tay ngay vào mùa vụ mới. Trong dân gian cứ thế truyền nhau, gọi bà là Quan Âm Nữ (con gái của Phật Bà Quan Âm). Trong lúc ấy, ở chiến trường xa xôi, mệt mỏi vì đánh lâu không thắng giặc, lại nghe tin thiên tai, lũ lụt liên miên, nhà vua trong dạ không yên. Ngài giao lại binh quyền cho tướng quân Lý Thường Kiệt và dẫn một toán quân nhỏ  quay về Thăng Long. Người ngựa về tới châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hải Dươg ngày nay), thấy làng quê vẫn bình yên, đồng ruộng vẫn nhộn nhịp người cấy hái. Vua ngạc nhiên cho gọi thổ hào địa phương và mấy người dân tới để hỏi rõ sự tình. Ai nấy hết lời ca ngợi tài trị quốc, an dân của Nguyên phi Nhiếp chính. Nghe xong, vua thở dài nói: “Nguyên phi vốn phận má hồng, thể chất liễu yếu đào tơ mà còn làm được việc lớn như vậy, ta đường đường là một đấng nam nhi đội trời đạp đất, lại là quân vương một nước, há lẽ không bằng nàng ư?” Ngay trong đêm đó, vua quay trở lại chiến trường. Lần ấy quả nhiên thắng trân.

Năm Nhâm Tí (1072), vua Lý Thánh Tông đột ngột băng hà, triều đình đưa Thái tử Càn Đức lên ngôi, tức Lý Nhân Tông. Khi ấy vua mới lên bảy tuổi, triều đỉnh rối ren, chia bè rẽ phái. Được sự giúp đỡ của Thái úy Lý Thường Kiệt, Nguyên phi dần lấy lại được quyền điều hành đất nước, từng bước củng cố việc trị quốc, an dân.

Năm 1075, nhà Tống âm mưu xâm lược nước ta, vua Lý Nhân Tông hãy còn nhỏ tuổi, Thái úy Lý Thường Kiệt đem quân đi chống giặc ngoài biên ải. Bà đã gạt những hiềm khích trước đây, triệu hồi Lý Đạo Thành đang trấn thủ Nghệ An về kinh, phục chức Thái sư, giúp điều khiển triều đình, lo việc binh lương chống Tống. Trong cả hai lần quân Tống xâm lược nước ta (1075, 1077), Hoàng Thái hậu Ỷ Lan đã cùng Thái sư Lý Đạo Thành đảm đương hậu cần, củng cố hậu phương để Thái úy Lý Thường Kiệt yên tâm đánh giặc. Hai lần chiến thắng giòn giã quân xâm lược nhà Tống có phần đóng góp không nhỏ của Hoàng Thái hậu Ỷ Lan. Giữa bao công việc bộn bề, Hoàng Thái hậu vẫn chăm lo mở mang dân trí, tổ chức các khoa thi nhằm tìm ra những người hiền tài giúp nước. Năm 1076, Hoàng Thái hậu cho xây dựng Quốc Tử Giám, chuyên dạy cho các hoàng tử và con các đại thần trong triều. Nơi này được coi là trường Đại học đầu tiên của nước ta. Lại nghe trong làng quê lúc này có nhiều nhà nghèo khổ, phải đem con gái đi ở đợ cho nhà giàu, Thái hậu rất xót xa. Bà đem tiền trong quốc khố chuộc những người con gái nghèo khổ ấy về, đem gả cho những người đàn ông góa vợ. Cung nữ trong cung cấm cũng được thả bớt, cho về quê cũ làm ăn…Vốn là người sùng đạo Phật, bà đã góp công xây dựng hàng trăm ngôi chùa làm nơi tu dưỡng tâm linh cho muôn dân. Bà thường lui đến các chùa chiền, đàm đạo với các vị sư già học rộng. Có lần, khi đến chùa Phổ Minh nói chuyện với vị sư già Thông Biện, Thái hậu đã ứng khẩu một bài kệ:

“Sắc là không, không tức sắc

Không là sắc, sắc tức không

Sắc không đều chẳng quản

Mới hợp được chân tông.”

Nghe xong, vị sư già khâm phục lắm: “Người như Thái hậu đã thực hiểu được chân lí của nhà Phật. Của cải, danh vọng ở đời chỉ là thứ bèo mây trôi nổi.”

Hoàng Thái hậu Ỷ Lan mất tháng Tám năm Đinh Dậu (1117). Bà được suy tôn là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái hậu, mai táng ở phủ Thiên Đức. Tại làng Sủi và nhiều vùng trong cả nước, nhân dân đã xây dựng đền thờ bà, đời đời tôn vinh người phụ nữ tài ba góp nhiều công sức làm rạng danh nhà Lý.

               HẾT.

 

Câu chuyện bạn Nguyễn Hương Ly vừa kể nằm trong Dự án Sách nói của Vinschool, được triển khai trong hội sách Bookfair 2017: Đây là dự án bao gồm các câu chuyện cổ tích Việt Nam và Thế giới, truyện ngụ ngôn… được đọc, kể lại và thu âm bởi chính học sinh Vinschool. Trong đó, 50% các câu chuyện sẽ được kể bằng tiếng Anh. Sách nói sẽ được phát hành trên website của Nhà trường để Phụ huynh khối Mầm non và Tiểu học có thể bật cho con nghe, đồng thời Vinschool sẽ dành tặng cho trẻ em các trường khiếm thị như một dự án xã hội của các bạn học sinh.